OraZeN

Thursday, September 29, 2005

Hiệp khách hành

Lý Bạch

Khách nước Triệu phất phơ dải mũ,
Gươm Ngô câu rực rỡ tuyết sương.
Long lanh yên bạc trên đường,
Chập chờn như thể muôn ngàn sao bay.
Trong mười bước giết người bén nhạy,
Nghìn dặm xa vẫy vùng mà chi.
Việc xong, rũ áo ra đi,
Xoá nhoà thân thế, kể gì tiếng tăm.
Rảnh rang tới Tín Lăng uống rượu,
Tuốt gươm ra, kề gối mà say.
Chả kia với chén rượu này,
Đưa cho Châu Hợi, chuốc mời Hầu Doanh.
Ba chén cạn, thân mình sá kể!
Năm núi cao, xen nhẹ tựa lông hồng.
Bừng tai hoa mắt chập chùng.
Mống tuôn hào khí mịt mùng trời mây.
Chuỳ cứu Triệu vung tay khẳng khái,
Thành Hàm Đang run rẩy, kinh hoàng.
Nghìn thu tráng sĩ hai chàng,
Tiếng tăm hiển hách, rỡ ràng Đại Lương.
Thân dù thác, thơm xương nghĩa hiệp;
Thẹn chi hào kiệt trên đời.
Hiệu thư dưới gác nào ai?
Thái huyền trắng xoá đầu người chép kinh.

Monday, September 12, 2005

Điều kỳ diệu làm nên Văn học

Nhiều người trong chúng ta còn nhớ câu chuyện về chú bé người gỗ Bu-ra-ti-no đã tìm ra bí ẩn của chiếc chìa khóa vàng như thế nào. Hẳn chúng ta còn nhớ, bếp lửa reo vui, nồi súp bốc khói trong ngôi nhà của bố Các-lô chỉ là bức vẽ treo trên tường an ủi ông trong những cơn đói triền miên. Và hẳn, chúng ta cũng biết, khi cái mũi dài nghịch ngợm của Bu-ra-ti-no xuyên thủng lớp vải mục của bức vẽ, chú đã tìm ra cánh cửa gỗ dẫn tới một điều kỳ diệu. Một điều kỳ diệu với ánh sáng xanh huyền ảo, âm nhạc diệu kỳ và một cuộc sống mới.

Các bạn có nhận thấy bức tranh vẽ nồi súp đặt trên lò sưởi đó chính là văn học của chúng ta, và chúng ta, những độc giả, chính là vô vàn chú béù Bu-ra-ti-no ấy. Chúng ta trông đợi gì ở văn học? Hẳn không phải một bức tranh vải đã mục nát. Chúng ta đi tìm một cái gì quí giá hơn đằng sau những dòng chữ ngoằn nghèo trên những tranh giấy trắng. Chúng ta đi tìm cánh cửa gỗ sồi mà một nghệ nhân đã làm ra từ lâu lắm rồi.

Bất cứ một tác phẩm văn học nào-nếu không muốn chỉ trở thành bức tranh lừa mị lúc đói lòng-phải chứa trong nó cánh cửa dẫn tới một điều kỳ diệu.

Cánh cửa gỗ trong một truyện cổ tích thông thường sẽ dẫn Bu-ra-ti-no và các bạn của chú tới một kho báu khổng lồ, và một kết thúc truyền thống sẽ là bác Các-lô sống sung sướng như một ông hoàng cho đến tận cuối đời. Nhưng trong Chiếc chìa khóa vàng, cánh cửa gỗ lại dẫn đến một sân khấu múa rối khác, nơi Bu-ra-ti-no diễn lại câu chuyện về chính bản thân chú, và trên sân khấu mới, chú bé người gỗ sẽ lại mở ra một cánh cửa kỳ diệu, cánh cửa đó sẽ lại mở vào một sân khấu mới...cứ như vậy cho tới vô tận. Không có cánh cửa đầu tiên cũng như không có cánh cửa cuối cùng.

Nếu như chúng ta có thể làm một lát cắt xuyên qua các lớp thời gian ở thời điểm Bu-ra-ti-no đẩy cánh cửa, chú bé gỗ sẽ thấy một số lượng vô tận các chú Bu-ra-ti-no nhỏ dần đang gắng sức dẫn đầu đoàn người tiến vào những hành lang tối om dẫn đến cái sân khấu múa rối vĩ đại có tên là Cuộc đời. Câu hỏi sẽ là, tại sao Bu-ra-ti-no vẫn quyết định đẩy cánh cửa, vì sao chú quyết định trò múa rối diễn ra trên sân khấu đó vẫn chính là câu chuyện về cuộc đời chú?

Phải chăng vì Bu-ra-ti-no biết, chú có được chiếc chìa khóa vàng-niềm tin của chú rằng, không phải đâu đó đằng sau cánh cửa kia có một điều kỳ diệu-mà bản thân câu chuyện của chú, cuộc sống của chú chính là một điều kỳ diệu, và cho dù hành động của chú được qui định do chú hay một siêu Bu-ra-ti-no nào khác thì điều ấy cũng không quan trọng-quan trọng là niềm tin bản thân cuộc sống của chú là một điều bí ẩn.

Cuộc sống của con người sẽ ra sao nếu thiếu niềm tin bản thân mình là điều kỳ diệu nhất trong các điều kỳ diệu, rằng cuộc sống của mình còn có có những cánh cửa mở sâu vào đến vô tận, và những điều bí ẩn vẫn còn đó sâu thẳm trong tâm hồn mình, chờ mình khám phá? Cuộc sống của chúng ta là một tiểu vũ trụ nằm trong một đại vũ trụ vô tận của cuộc sống, vừa là một đại vũ trụ hàm chứa trong nó vô số những tiểu vũ trụ khác nhau, và càng đi sâu vào trong cuộc sống cá nhân của mình, chúng ta càng thấu hiểu cuộc sống ngoài mình. Chúng ta nhận ra ý nghĩa của cuộc sống khi chúng ta thấy những cố gắng của chúng ta hình thành một mắt xích vô cùng nhỏ nhoi trên con đường tiến hóa của Tự nhiên và Lịch sử. Ðánh mất niềm tin ấy, chú bé người gỗ sẽ cho diễn một trò diễn khác, cuộc sống sẽ đi chệch khỏi vòng xoáy ốc vĩ đại của mình, và thế là bản thân chú bé người gỗ và câu chuyện tuyệt diệu về cuộc đời chú cũng sẽ không còn tồn tại.

Cánh cửa gỗ trong căn nhà của bác Các lô chính là điểm cắt của các lớp thời gian. Bu-ra-ti-no hẳn không ý thức được tại sao hình ảnh của chú lại được chạm ngay trên cánh cửa mà chú khám phá, chú chắc không ý thức được khi bước qua cánh cửa, chú đã bước vào chiều thứ ba của thời gian. Chiều thứ ba của thời gian chính là bề dày của các lớp thời gian đến trước, của những hồi ức, kỷ niệm của quá khứ, và có khi ngay cả những kinh nghiệm vô thức của những tiền kiếp. Sáng tạo văn học nghệ thuật, suy cho cùng, là sự thể nghiệm các cách kết hợp khác nhau của những lớp thời gian này hòng giải tỏa nỗi sợ hãi bản năng của con người đối với cái chết, là mong muốn kéo dài thêm cuộc sống của mình trên thế giới này bằng cách sống nhiều hơn với những giây phút hữu hạn của cuộc sống. Người ta đã tạo ra những đại lượng để đo đếm độ dài của thời gian, nhưng chưa có một đại lượng nào để đo chiều sâu của thời gian đó. Chiều thứ ba của thời gian là vô tận, và chính trong chiều sâu thăm thẳm chưa được khám phá của nó, các nhà văn sẽ không còn cảm thấy mình bị ràng buộc bởi cái hữu hạn của những số đếm. Những ngày tháng năm thế kỷ thiên niên kỷ sẽ thật nhỏ bé khi ta so sánh với sự phức tạp của các lớp thời gian. Nếu như độ dài của thời gian là thời gian của con người, thì độ sâu của nó là thời gian của Ðấng Sáng tạo.

Thế kỷ mà chúng ta đang sống là thế kỷ của sự khủng hoảng lòng tin vào tương lai, vào tất cả những điều kỳ diệu đã từng tồn tại trên trái đất này. Những nhà văn lớn như G. Steiner trăn trở "ngày nay thi sĩ có thể tồn tại được hay không?" hay "sau Lò Thiêu mà còn làm thơ thì thật là vô nhân"...Người ta nói rất nhiều đến những cái chết: cái chết của lịch sử, cái chết của âm nhạc, cái chết của tiểu thuyết, cái chết của thơ...Ðằng sau những tuyên ngôn khá ồn ào về những cái chết được báo trước ấy là nỗi âu lo của chủ nghĩa nhân văn sau hai cuộc đại chiến: liệu tiến bộ về khoa học kỹ thuật có đi kèm với tiến bộ trong đạo đức hay không, liệu xã hội loài người có thực sự tiến bộ về mặt xã hội hay không? Tại sao trong thế giới hiện đại ngày nay vẫn còn những "cánh đồng chết" ở Campuchia, còn những Somalia, Rwanda...? Con người phải làm gì trong một thế kỷ như vậy, một thế kỷ mà dường như ngày tận thế đang đến gần?

Con người phải chống lại những u ám đó bằng hi vọng ở những điều kỳ diệu, và vũ khí của họ là văn học nghệ thuật. Sự trở lại của những bản anh hùng ca, những Harry Porter, Chúa tể của những chiếc nhẫn chứng tỏ khao khát của con người đối với những điều kỳ diệu. Không phải ngẫu nhiên câu chuyện về cuộc chiến đấu của chú bé Harry Porter chống lại Chúa tể của Bóng tối lại làm say mê hàng trăm triệu người: đó là cuộc chiến của hi vọng chống lại tuyệt vọng, của điều kỳ diệu chống lại cái tầm thường.

Sự tuyệt vọng của cái tầm thường đang giết chết văn học của chúng ta. Trong khi thế giới đang đầy những âu lo về một cuộc sống ngày mai, văn học Việt nam phớt lờ ngày mai, bởi vì chúng ta thiếu cả niềm tin vào sự tồn tại của những điều kỳ diệu ở ngày hôm nay. Khác với quá khứ, cái tầm thường của thời hiện đại hoạt động với một tốc độ lớn, và trong khi quay cuồng theo những bước đi của khoa học, con người đứng trước nguy cơ đánh mất cảm quan về độ sâu của thời gian, thiếu đi những "điệu nhảy chậm" vốn dĩ có thể giúp chúng ta đi sâu vào bên trong tâm hồn, suy ngẫm và tìm ra ý nghĩa của cuộc sống chính bản thân chúng ta. Những từ ngữ đẹp đẽ như "tình yêu, "cái đẹp", "sự trong sáng", "chân lý" khiến cho các nhà văn Việt nam cảm thấy bất an, cứ như những điều kỳ diệu như vậy không thuộc về thế giới văn chương tầm tầm quen thuộc của chúng ta. Văn học của chúng ta ngày nay không có sự say đắm những điều kỳ diệu.

Rất giống với cái cảm giác lạ lùng của người Việt nam lần đầu bước chân ra nước ngoài. Biển quá xanh, trời quá cao, nắng quá trong, con người quá yên bình nhưng cũng không đem lại cho chúng ta cảm giác thanh thản, vì luôn luôn canh cánh trong lòng cảm giác nghi ngại, đề phòng: tất cả vẻ đẹp đó không dành cho mình, vẻ đẹp này là giả tạo...Chẳng mấy ai cảm thấy an tâm ở nước ngoài, vì một môi trường trong sạch làm những nhỏ nhen, toan tính của chúng ta trông thật thảm hại. Chỉ khi nào chúng ta quay lại với những đường phố chật hẹp bụi bặm, những chiếc xe chen chúc nhau xả khói, chúng ta mới thở phào yên tâm: thế giới của chúng ta đây rồi, môi trường của chúng ta đây rồi! Văn học Việt nam, vì vậy, không sáng tạo thêm được những huyền thoại, những anh hùng ca. Chúng ta không viết được sách cho trẻ em-bởi vì bản thân chúng ta cũng không tin vào những câu chuyện kỳ diệu. Chúng ta không có những câu chuyện tình yêu mê đắm lòng người, vì tất cả những gì nói về sự kỳ diệu của tình yêu bị chúng ta thầm kết tội là "sến". Giống như câu hỏi trong một bài hát cũ "how I can survive this romance?"-dịu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi-chúng ta không chuẩn bị cho mình đối với sự tồn tại của những cái kỳ diệu.

Bertolt Brecht nói "không có nền nghệ thuật lớn nếu thiếu tư tưởng lớn". Bước vào một thế kỷ chắc sẽ còn hắc ám hơn thế kỷ mà chúng ta vừa trải qua, tư tưởng lớn của chúng ta là gì? Nhà văn Nhật bản Kenzaburo Oe cho rằng "chủ nghĩa nhân văn hiện đại là không quá tin tưởng vào con người, và cũng không quá tuyệt vọng vào con người". Văn chương của chúng ta có lẽ nên như vậy. Thời hiện đại đòi hỏi chúng ta một cái nhìn khe khắt hơn, thậm chí đôi khi cay đắng hơn đối với thực taiï, nhưng trong cay đắng, trong sự khe khắt của trí tuệ, chúng ta vẫn gìn giữ được lòng tin vào những phép la của cuộc sống. Và đó chính là sự quay trở về của một chủ nghĩa lãng mạn hiện đại.

- Nguyễn Thanh Sơn -

Sunday, September 11, 2005

Một vài câu cách ngôn của Trương Trào

Thú nhàn và bạn bè

Trong thiên hạ, được một tri kỷ, có thể không ân hận rồị

Người ta cho là bận rộn thì mình coi là thảnh thơi, có như vậy mới có thể bận rộn cái mà người ta cho là thảnh thơị

Không có gì vui bằng nhàn, nhàn không phải là không làm một việc gì. Có nhàn mới đọc được sách, mới đi xem được những thắng cảnh, mới giao du được những bạn có ích. Mới uống được rượu, mới viết sách được. Có niềm vui nào lớn hơn vậy nữả

Mây được mặt trời chiếu vào rồi mới thành ráng, suối treo vào đá rồi mới thành thác. Cũng là vật đó mà gửi vào một cái gì khác có tên khác. Cho nên đạo bạn bè thật đáng quý.

Nói chuyện với bạn uyên bác như đọc sách lạ, nói chuyện với bạn phong nhã như đọc thi văn của các bậc danh nhân, nói chuyện với bạn nghiêm cẩn, đạo đức như đọc kinh truyện của thánh hiền, nói chuyện với bạn hoạt kê như đọc tiểu thuyết truyền kỳ.

Kẻ sĩ nên có bạn thân. Bạn thân bất tất phải là bạn thề sống chết có nhau. Thường thì bạn thân là bạn cách xa nhau hàng trăm ngàn dặm vẫn có thể tin nhau, không nghe những lời ngời ta nói xấu về bạn. Việc nào nên làm nên ngưng có thể thay bạn mà mưu tính quyết đoán, hoặc những lúc lợi hại, giúp bạn mà không cho bạn biết, cứ hết lòng vì bạn mà không lo rằng bạn có hiểu mình không.

Diễn được ý ngời trước chưa diễn mới là sách lạ. Nói được những điều khó nói về vợ con, mới là bạn thân.


Sách và đọc sách

Tuổi trẻ đọc sách như là nhìn trăng qua cái kẽ, lớn tuổi đọc sách như ngắm trăng ngoài sân, tuổi già đọc sách như thưởng trăng trên đài. Do từng trải nhiều hay ít mà sở đắc nhiều hay ít.
Có thể đọc những cuốn sách không có chữ (chẳng hạn cuốn sách ngoài đời) thì mới nói được những câu kinh nhân, có thể hiểu những điều giảng không được thì mới thấu được cái huyền vĩ nhất của Phật pháp. Văn chương bất hủ cổ kim đều viết bằng huyết lệ...
Văn chương là sơn thủy trên án thư, sơn thủy là văn chương trên trái đất. Thú nhất là đọc sách, đọc sử thì vui ít mà giận nhiều, nhưng chỗ giận đó cũng là chỗ vui
Nên đọc kinh thư vào mùa đông, để tinh thần được chuyên nhất; nên đọc sử vào mùa hè vì ngày dài; nên đọc chư tử (các triết gia thời cổ ngoài Khổng, Lão) vào mùa thu vì có nhiều ý lạ; nên đọc chư tập (các tác giả gần đây) vào mùa xuân vì thời tiết đổi mớị
Người biết đọc sách thì cái gì cũng là sách: sơn thủy cũng là sách, thơ rượu cũng là sách, hoa trăng cũng là sách. Người biết thởng ngoạn phong cảnh thì cái gì cũng là sơn thủy, thơ rượu cũng là sơn thủy, hoa trăng cũng là sơn thủy.
Người xưa muốn đọc sách mười năm, du ngoạn sơn thủy mười năm, rồi mười năm suy ngẫm lại kinh nghiệm. Tôi nghĩ kiểm điểm kinh nghiệm chẳng cần tới mười năm, chỉ cần ba năm cũng đủ, còn đọc sách và du ngoạn sơn thủy thì gấp hai, gấp năm lần mười năm cũng chưa mãn nguyện. Có lẽ phải sống ba trăm năm như Hoàng Cửu Yên nói, may mới đủ chăng?


Sơn thủy

Vật mà dễ cảm lòng người, trên trời không gì bằng trăng, về nhạc không gì bằng đàn cầm, trong loài động vật không gì bằng chim quyên, trong loài thực vật không gì bằng liễụ

Vì trăng mà lo có mây, vì sách mà lo có mọt, vì hoa mà lo gió mưa, vì tài tử giai nhân mà lo mệnh bạc, đó đều là tấm lòng Bồ Tát cả.

Có cảnh sơn thủy trên đất, có cảnh sơn thủy trên tranh, có cảnh sơn thủy trong mộng và có cảnh sơn thủy trong lòng. Cảnh sơn thủy trên đất đẹp ở chỗ gò hang u tịch, cảnh sơn thủy trên tranh đẹp ở chỗ nét bút thấm thía, cảnh sơn thủy trong mộng đẹp ở chỗ cảnh tượng biến ảo, cảnh sơn thủy trong lòng đẹp ở chỗ mỗi vật đều được đặt đúng vị trí.

Măng tre là vật quý trong loài rau, quả vải là vật quý trong loại trái cây, cua là vật quý trong loài thủy tộc, rượu là vật quý trong sự ẩm thực, trăng là vật quý ỏ trên trời, Tây Hồ là vật quý về sơn thủy, từ khúc là vật quý trong văn chương.

Phải có duyên mới được du ngoạn thắng cảnh, nếu duyên chưa tới thì dù ở cách thắng cảnh chỉ vài chục dặm cũng không nhàn nhã mà đi được.

Hình ảnh trong gương là những bức chân dung có màu, bóng người dới trăng là những nét phác bằng mực. Cảnh sơn thủy trên trăng là địa lý trên trời, bóng trăng sao đáy nước là thiên văn trên đất.


Bàn về hoa và mỹ nhân

Hoa không nên thấy rụng, trăng không nên thấy chìm, mỹ nhân không nên thấy chết yểụ

Trồng hoa nên thấy hoa nở, đón trăng nên thấy trăng tròn, viết sách nên viết cho xong, mỹ nhân nên thấy vui vẻ, sung sướng.

Ngắm đàn bà buổi sáng, nên đợi lúc trang điểm xong.

Có những khuôn mặt xấu mà dễ nhìn, có những khuôn mặt không xấu mà khó nhìn, có những áng văn viết vụng mà khả ái, có những áng văn viết trơn khéo mà đọc rất chán. Điều đó, không dễ gì giảng cho hạng nông cạn hiểu được.

Lấy lòng yêu hoa mà yêu mỹ nhân thì tất có cái thú riêng, lấy lòng yêu mỹ nhân mà yêu hoa thì thêm cái thắm tình và thêm lòng nâng niu thương tiếc.

Mỹ nhân hơn hoa ở chỗ biết nói, hoa hơn mỹ nhân ở chỗ toả hương. Nếu không được cả hai thì bỏ hương mà lựa biết nói. Thường hoa đẹp thì không thơm, cánh nhiều tầng thì không kết quả. Được hoàn toàn thực khó thay. Sen kiêm cả chăng?

Gọi là mỹ nhân thì mặt đẹp như hoa, tiếng nói như chim, tinh thần như trăng, vẻ như liễu, xơng như ngọc, da như băng tuyết, dáng như nước thu, lòng như thơ, ta không còn chỗ nào chê cả.

Trong thiên hạ không có sách thì thôi, có thì phải đọc; không có rượu thì thôi, có thì phải uống; không có núi đẹp thì thôi, có thì phải tới chơi; không có hoa có trăng thì thôi, có thì phải thưởng ngoạn, không có tài tử giai nhân thì thôi, có thì phải mến yêu, thơng tiếc.

Không có thơ rượu thì sơn thủy cũng vô nghĩa, không có đàn bà đẹp thì trăng hoa cũng vô ích. Tài tử mà lại đẹp, giai nhân mà lại biết làm văn đều là không thọ được. Không chỉ vì tạo vật đố kị, mà còn là hạng người đó không phải là bảo vật của một thời, mà là bảo vật của cổ kim vạn đại, cho nên Tạo vật không muốn cho lưu lại lâu trên đời dễ hoá nhàm.


Thế nào là thích hợp?
Hoa không thể không có bướm, núi không thể không có suối, đá không thể không có rêu, nước không thể không có rong, cây lớn không thể không có dây leo, và người không thể không đam mê một thứ gì. Thưởng hoa nên ngồi với giai nhân, uống rượu ngắm trăng nên ngồi với khách tao nhã, ngắm tuyết nên chung với cao sĩ.
Đứng trên lầu mà ngắm núi, đứng trên thành mà ngắm tuyết, đứng trước đèn mà ngắm trăng, ngồi trong thuyền mà ngắm mây, đứng dưới trăng mà ngắm người đẹp, mỗi cảnh có mỗi tình.
Đá ở bên gốc mai nên cổ kính, đá ở dưới gốc tùng nên thô, đá ở bên bụi trúc nên gầy, đá ở trong bồn nên đẹp.
Có núi xanh thì có nước xanh, nước mượn sắc của núi, có rượu ngon thì có thơ hay, thơ cũng mượn cái thần của rượu


Xuân, Thu

Xuân là lòng tự nhiên của trời, thu là tính tình thay đổi của trời. Người xưa cho mùa đông là "ba tháng dư" (hoặc ba tháng để nghỉ ngơi). Tôi cho rằng mùa hè mới là ba tháng dư: sáng sớm dậy là cái dư của đêm, đêm ngoạn chơi là cái dư của ngày, ngủ trưa là cái dư của sự thù ứng. Cổ thi có câu: Ta yêu mùa hè ngày dài, lời đó đúng.

Răn mình thì nên như cái khí (nghiêm khắc) của mùa thu; xử thế thì nên như cái khí (ôn hoà, vui vẻ) của mùa xuân.

Thơ và văn được như cái khí mùa thu thì hay, từ khúc mà đợc như cái khí mùa xuân thì haỵ


Thanh âm

Mùa xuân nghe tiếng chim, mùa hè nghe tiếng ve, mùa thu nghe tiếng trùng, mùa đông nghe tiếng tuyết; ban ngày nghe tiếng đánh cờ, dưới trăng nghe tiếng tiêu, trong núi nghe tiếng tùng, bên nước nghe tiếng sóng vỗ, như vậy sống không uổng.

Dưới tùng nghe tiếng cầm, dưới trăng nghe tiếng tiêu, bên suối nghe tiếng thác đổ, trong núi nghe tiếng tụng kinh, mỗi tiếng có một thú riêng.

Mọi thứ tiếng đều nên nghe xa, duy có tiếng đàn cầm là xa gần đều được. Nước có bốn thứ tiếng: tiếng thác, tiếng suối, tiếng ghềnh, tiếng ngòi rạch. Gió có ba thứ tiếng: tiếng sóng tùng (gió thổi trong cây tùng ào ào như sóng), tiếng lá thu, tiếng sóng ầm ầm. Mưa có hai thứ tiếng: tiếng mưa rơi trên lá ngô đồng, tiếng giọt gianh trong thùng tre


Mưa

Mùa xuân mưa nên đọc sách, mùa hè mưa nên đánh cờ, mùa thu mưa nên soạn lại những vật kỷ niệm cũ, mùa đông mưa nên uống rợu. Tôi muốn viết thư gửi cho Thần Mưa, xin rằng mùa xuân sau tiết Thợng nguyên hãy mưa cho tới mười ngày trước tiết Thanh minh (lúc hoa đào bắt đầu nở), rồi sau Thanh minh mưa cho tới tiết Cốc vũ (lúc đó Trung Hoa là mùa trồng lúa); mùa hè thì cứ mỗi tháng, mưa trớc ngày thượng huyền và sau ngày hạ huyền; mùa thu chỉ mưa trong thượng tuần và hạ tuần tháng bảy và tháng chín; còn ba tháng mùa đông thì xin đừng mưạ


Gió trăng

Tiếc rằng trăng non mau lặn mà trăng khuyết (hạ tuần) chậm lên. Dưới trăng nghe tiếng tụng kinh hay chuông chùa thì cái thú càng sâu xa. Dưới trăng mà bàn về kiếm thuật thì can đảm càng tăng. Dưới trăng mà bàn về thơ phong thái càng tĩnh. Dưới trăng đối diện với mỹ nhân tình ý càng nồng.

Phép ngắm trăng: trăng sáng nên ngửng nhìn, trăng mờ nên cúi nhìn. Gió xuân như rượu, gió hè như trà, gió thu như khói, gió đông như gừng, cải (buốt).


Về đời sống...

Cái gì cũng dễ quên, chỉ lòng tham danh là khó quên.

Nghiên mực người nhàn phải đẹp mà nghiên mực của ngời bận rộn cũng phải đẹp.

Người nên giống như một bài thơ, vật nên giống như một bức hoạ. Một chữ Tình để duy trì thế giới, một chữ Tài để tô điểm càn khôn.

Ngũ Thập Đại Thoại

(Giả Bình Ao)

Qua hăm mốt tháng hai âm lịch, là năm nay tôi đã tròn 50 tuổi. Đến tuổi 50, con người đã là đại nhân, thọ là đại thọ, được nói chút đại ngôn trước đám đông rồi.

Quãng nửa tháng nay thì phải, tôi bắt đầu ngủ không còn ngon giấc, và tự dưng lại thích tiền, tôi biết rằng tôi đang già đi. Cặp chân thấy nặng lên rõ rệt, xem các thứ đều không rời được kính mắt, răng hàm thì chiếc nào cũng phải hàn vá, mái tóc cũng đã hói đi một nửa. Cơ thể già nua cũng giống như căn nhà lâu năm, dầm kèo mọt ruỗng, mưa dột tứ tung. Lúc con người khoẻ mạnh, cơ thể với linh hồn luôn thống nhất và có thể nói là rất an lành, không bao giờ cần biết đến các bộ phận trên cơ thể, đến khi linh hồn biết rõ được các bộ phận, thì những bộ phận ấy chắc chắn là đã có chuyện, thế là linh hồn phân liệt với cơ thể, đâm ra bực bội, thỉnh thoảng lại muốn bỏ đi. Trong lúc leo cầu thang tôi thường có cảm giác thân mình còn đang ở bậc thang thứ tám, linh hồn đã đang đứng trên bậc thang thứ mười rồi, thậm chí là thân mình ngồi trên ghế, mà nhìn thấy được linh hồn thì đang đi lại trong phòng. Từng có bữa cùng đám bạn đi ăn hiệu, giữa chừng gặp người đàn bà đẹp khiến lòng tôi thích thú, nhưng cô vừa đến gần tôi đã gọi nhắng lên: “Cụ Giả cụ Giả”. Cáu tiết tôi nói: “Chị có thể không thích tôi, nhưng chị cũng không nên gọi tôi như thế nhá!” Tôi thật sự sợ một khi cơ thể tồi quá, linh hồn rời đi sẽ không còn trở lại nữa. Thế là từ đấy không còn dám thức đêm, dù có là bạn thân nhất rủ đánh bài mạt chược, nói trước là sẽ thả cho tôi ăn, cũng không có đi. Ăn uống đâm ra kiểu cách, tuy dạ dầy vốn tình cảm, cũng không còn dám nhớ về những món bánh đúc mì trộn cay khoái khẩu từ thuở bé dưới quê nữa, đòi uống sữa bò, bắt bà xã hầm gà ác với nhân sâm, còn nữa là hải sản và trái cây. Rồi nghe ông Điền hàng xóm, sớm sớm dậy tập chạy, chạy kiểu giật lùi, lại còn nào là ngồi cầu không được hút thuốc, mím miệng xoa tay vào bụng dưới, xoa đến nóng rang lên, lúc rỗi rãi thì tì lưỡi vào chân răng, thấy nước rãi ra thì nuốt vào, không còn bận tâm việc cấp bậc lương lậu còn nâng cao được nữa không, chỉ lo làm sao giữ cho huyết áp mỡ máu khỏi cao lên, thành tích công cán có nổi bật hay không chẳng quan trọng, cốt chú ý sao cho đốt xương cụt đừng chồi ra là được. Đi học thi đỗ vào được đại học là con cái nó có hiếu với cha mẹ rồi, bây giờ cốt làm sao cho mình khoẻ, thì con cái nó mới gần gũi.

Từ dưới quê tôi lên thành Tây An hồi mới 20 tuổi, loáng cái mười mấy năm trời đã qua đi, tuy vẫn có cảm giác việc tốt nghiệp đại học là chuyện mới hồi nào, trên thực tế thì con tôi cũng đang sắp tốt nghiệp đại học rồi. Rốt cuộc thì một đời người làm nên nổi những công việc gì? Vào tuổi 50, à không, chỉ sau tuổi 40 thôi, bạn sẽ hiểu ra rằng, kì thực đời người là chẳng làm nên được mấy việc đâu, mà mọi việc đã làm đều là nhằm tìm lấy vị trí của mình. Đấng sáng thế tạo nên đồ vật theo nhu cầu của thế gian, nhưng đồ vật thì lại không biết, đều cho rằng mình là anh hùng, nhưng anh đã là chiếc gáo, thì dù có ra sức chứa nước cũng không chứa lại được bằng cái thùng. Tính cách đã sắp xếp định số cho mật mã sự sống, bởi vậy, sự phát triển tính cách chính là quĩ tích của toàn bộ số phận. Không hiểu được điều này, tất sẽ sa xuống làm kẻ yếu, kẻ yếu là hung dữ mạnh bạo, là tàn nhẫn, đồng thời cũng là vô vọng. Cuối cùng thì tôi cũng đã biết được rằng tôi chính là kẻ mạnh, kẻ mạnh là dịu hiền, thế là tôi sống cuộc sống rất hạnh phúc của tôi. Không còn xách thuốc thơm rượu ngon lên vòng vo nơi cửa nhà sếp, hoặc ôm đống sách và tranh chữ của mình nhờ sếp chỉ bảo, đương nhiên là cũng không có hơi tí là ngồi nhà chửi sếp, sếp bảo việc gì là cố cự lại không làm. Xu nịnh là sỉ nhục, ngạo nghễ cũng đâu hay, tốt nhất vẫn là hồn nhiên tự tại. Người khác nói tốt về tôi, tôi cảm ơn người ta, và cần thiết tự hỏi mình có được như họ nói không? Gặp người khinh ta, là chắc ta không có được chỗ đáng trọng, và không còn phiền muộn vì những chuyện thị phi trên văn đàn nữa. người làm ra chiếc xe mong người khác phú quí, kẻ chế tạo dao kiếm mong người ta phương hại nhau, đó là đòi hỏi của bản thân nền kĩ thuật. Nếu có gặp phỉ báng và vùi dập, là tại mình tu chưa thành chính quả, một con thỏ chạy phía trước, là chắc có tới trăm người rượt đuổi phía sau, không phải một con thỏ có thể tách làm trăm con, mà là bởi danh phận con thỏ này chưa được xác nhận mà thôi! Trồng được bụi trúc trước nhà chưa hẳn đã thanh cao, khách đến nhà tự dưng ít đi cũng chưa hẳn là lánh tục, hãy cứ sống cho bình thường là hơn, xuân sang ngắm hoa nở, thu đến thì ta quét lá rụng.


Mọi người đều biết tôi lắm bệnh, chẳng hiểu sao cứ đau hết chỗ này chỗ nọ, thế nhưng bệnh tật cũng đã tránh cho tôi nhiều điều khó xử, tỉ như có người hỏi, ông đảm đương chức vụ ấy mới phải, hoặc nói là tại sao ông lại không được giải, tại sao ông không có bồ kia chứ, tôi đều trả lời là bởi tôi có bệnh! Điều quan trọng hơn, bệnh tật là bộ vi chỉnh giữa cái sống với cái chết, nó giúp tôi hiểu ra ý nghĩa của sự sinh tử, như không ngừng được lên lớp triết học vậy. Ngoài bệnh tật nhiều thì người chửi tôi cũng nhiều. Tôi vẫn cứ không hiểu được rằng: Tôi đã trêu chọc ai, gây hấn ai rồi mà lại chửi tôi thế? Về sau được thấy một câu đối của cổ nhân, thế là hiểu ra và cười tủm. Câu đối có vế trái viết thế này: Viết sách được hai mươi vạn lời, tài đâu đã cạn; Được chửi khắp chín châu bốn bể, danh cứ thế đến (Chước thư thành nhị thập vạn ngôn, tài vị tận dã; Đắc báng phiến đắc cửu châu tứ hải, danh diệc tuỳ chi). Tôi chẳng phải thế sao, danh tiếng mà lớn, lời phỉ báng cũng đến theo, lời chửi rủa càng nhiều, danh tiếng lại càng lớn đấy thôi. Trên thế gian đâu đơn thuần chỉ là việc tốt hay việc xấu? Đến bây giờ tôi đã biết được phải viết văn chương ra sao rồi, sống cũng đã có thể sống cho mùi mẫn rồi, cho nên tôi mới tự nhắc mình: Hãy biết thưởng thức. Con chim hót trên cây, chim đang nói gì vậy? Ngôn ngữ của chim tôi nghe không hiểu, nhưng cảm nhận nó hót hay là được, chỉ để mình làm kẻ lắng nghe thôi. Còn nữa: năng làm việc tốt, coi chuyện làm việc tốt là phương thuốc chữa bệnh. Không còn ghét ai, nhìn kẻ thù phải xem như họ là người đến đôn đốc ta thành công. Với bạn bè không thể đòi hỏi họ phải như là người nhà. Tiền thì vẫn phải quí, cũng giống như lời cổ nhân nói, tấm lòng lớn lao vậy, đặng yêu đồng tiền cỏn con sao. Lấy chữ nghĩa lập thân, dùng trang chữ dưỡng tính, sưu tầm đồ cổ để cho đồ cổ sưu tầm ta, say đắm đàn bà để được đàn bà tôn trọng mình. Không uổng phí thời gian, không lãng phí lương thực. Rốt cuộc thì vẫn là câu xưa cũ: Bình sinh một tấm lòng, không nghiêng ngả bởi người, văn chương chuyện thiên cổ, đem thú vui đến ta.

Con đường âm nhạc (part I)

Chương 1: Những gì đã tạo nên âm nhạc ???

Âm nhạc bao gồm những thành phần cơ bản có thể thấy được thông qua lịch sử của mọi nền văn hoá như :

* Âm sắc (phẩm chất đặc trưng về âm thanh của một giọng hát, nói hoặc một nhạc cụ)
* Độ cao (pitch)
* Độ ồn
* Duration
* Nốt lặng(Silence)

Với năm thành phần cơ bản này chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều các thành phần phụ nữa có thể tồn tại trong các loại nhạc này nhưng không tồn tại trong các loại nhạc khác.

Trải qua nhiều thế kỷ, những suy nghĩ hay học thuyết về âm nhạc được phát triển rất khác nhau đối với mỗi nền văn hoá khác nhau. Ngày nay, lịch sử âm nhạc hoặc nền văn hoá có thể định nghĩa chung bao gồm âm nhạc phương Tây, âm nhạc phương Đông, và âm nhạc sơ khai. Trong các loại nhạc chung này, nền văn hoá âm nhạc lại được chia ra thành rất nhiều nhánh khác. Ví dụ, đối với âm nhạc phương Tây, chúng ta có thể bao gồm cả âm nhạc Tây Âu và Mỹ, trong khi đó đối với âm nhạc phương Đông, chúng ta có rất nhiều vùng Tây Á, Đông Á… Âm nhạc sơ khai có thể bao gồm âm nhạc châu Phi và thổ dân châu Úc.

Âm thanh của âm nhạc được tạo ra bởi sự rung động của một hay nhiều vật thể, ví dụ như cái dây, ống sậy, hay mặt trống. Tiếng rung động của môi hay những rung động của loa radio cũng được xếp là những âm thanh của âm nhạc. Trong một cây đàn guitar, dây đàn guitar sẽ rung khi có một tác động vào nó như kéo-thả, trong khi đó âm thanh của cây kèn trumpet được tạo ra bởi các rung động ở môi của nghệ sĩ. Một rung động nói chung được phân biệt bởi biên độ và tần số của nó. Tần số càng cao thì độ cao hoặc âm thanh sẽ càng cao. Âm thanh càng ầm ỹ thì biên độ của chúng càng lớn.

Độ cao (pitch) được định nghĩa như là độ cao thấp của âm thanh. Nếu một âm thanh được phát ra khi chúng ta ấn một trong các phím ở bên trái cùng của đàn piano sẽ rất trầm(khoảng 30 cps) trong khi đó ngược lại sẽ rất cao (khoảng 4000cps) khi chúng ta ấn vào các phím ở phía bên phải cùng. Ngày nay, chúng ta có thể nghe rất nhiều độ cao khác nhau, từ những âm rất trầm như của tuba, bass dây, bass điện tử… đến các âm rất cao như của piccolo(sáo kim, có âm cao hơn sáo thường một quãng tám), violin, guitar điện tử…Độ cao được phân chia thành hai thành phần chính là giai điệu và cách hoà âm. Hai thành phần này rất quan trọng ngay cả khi chúng không được sử dụng hết trong các dòng âm nhạc.

Giai điệu có thể xuất hiện một mình, kết hợp cùng với các giai điệu khác(đối âm/phức điệu) hay kết hợp với hoà âm. Giai điệu có thể chứa những đoạn lướt, đoạn cách quãng, hay nói chung đơn giản là các nốt nhạc kế tiếp nhau. Một giai điệu là sự kết hợp sinh động giữa âm thanh và cảm xúc. Một số giai điệu có thể rất gai góc, ồn ào nhưng một số khác có thể rất bình dị, êm ả. Hầu hết các giai điệu phổ biến đều đơn giản và dễ hát, trong khi một số giai điệu mang tính nghệ thuật hơn lại khá phức tạp. (Tất nhiên, nói chung thì mỗi người đều cảm nhận một cách khác nhau, “đơn giản” và “phức tạp” chỉ mang tính tương đối).

Một định nghĩa đơn giản về hoà âm là “âm thanh của hai hay nhiều nốt ở cùng một thời điểm”. Khái niệm hợp âm và vòng hoà âm là những khía cạnh quan trọng cần nhắc đến khi nói tới hoà âm.

Một hợp âm là âm thanh của 3 hay nhiều nốt nhạc ở cùng một thời điểm. Các hợp âm cơ bản thường bao gồm 3 nốt(được gọi là triad), 4 nốt(hợp âm 7), 5 nốt(hợp âm 9), 6 nốt(hợp âm 11), và 7 nốt(hợp âm 13). Thông thường các hoà âm đơn giản(thường bao gồm các loại nhạc phổ thông như rock, country hay folk), chứa các hợp âm 3, trong khi một số hoà âm phức tạp hơn ( nhạc cổ điển và jazz) sử dụng tất cả các loại hợp âm kể trên. Một ví dụ về các bài hát sử dụng hợp âm đơn giản là bài “Maybelline” của Chuck Berry trong khi đó có thể có một ví dụ phức tạp hơn khi xem xét bài “Orinthology” của Charlie Parrker. Cần phải ghi nhớ lại một lần nữa là không có một định nghĩa tuyệt đối về sự đơn giản hay phức tạp của âm nhạc. Một số các bài nhạc đơn giản không bao giờ khiến người ta muốn rời bỏ chúng trong khi đó một số các bài phức tạp khiến người ta chỉ muốn vứt chúng đi ngay lập tức.

Hợp âm có thể được phân chia thành hai loại là hợp âm trưởng và hợp âm thứ. Một số nhà soạn nhạc đơn giản coi hợp âm trưởng đại diện cho những nét nhạc tươi sáng, vui vẻ trong khi hợp âm thứ dành cho những nét nhạc u ám, ảm đạm và tối tăm hơn. Hoà âm của dòng nhạc phương Tây được thừa hưởng chủ yếu dựa trên hai loại hợp âm này và hệ thống hoà âm của họ được coi là hệ thống khoá trưởng-thứ(Major-Minor tonality - hệ thống này đã được phát triển khá đầy đủ rất sớm từ những năm đầu thế kỷ XVIII). Hợp âm có thể được coi như là những từ trong một câu nhạc. Các câu nhạc sẽ bao gồm rất nhiều từ và nhạc sỹ có thể tự do chọn từ ngữ trong vốn từ của mình cho bản nhạc của họ.

Một thành phần chính khác của âm nhạc là Âm sắc (Timbre)- màu sắc của các tone nhạc. Mỗi một nhạc cụ âm nhạc sẽ tạo ra một âm sắc khác nhau mà người nghe có thể nhận ra ngay đâu là một nốt C của kèn trumpet, đâu là của đàn guitar. Tai của chúng ta cảm thấy sự khác biệt giữa kèn trumpet và đàn guitar cũng như mắt của chúng ta phân biệt giữa mầu xanh và đỏ(trừ khi bạn mù mầu). Cũng như việc pha trộn các mầu sắc khác nhau, âm sắc cũng có thể được trộn lẫn vào nhau. Khi bạn nghe trumpet và trombone hoà lẫn vào nhau bạn sẽ rất khó phân biệt đâu là trumpet và đâu là trombone. Tính đa dạng trong việc hoà lẫn âm sắc khác nhau là không có giới hạn và chắc hẳn bạn cũng như tôi đã không ít lần phải ngạc nhiên đến thán phục trước những cách phối hợp nhạc cụ này. Vậy thì âm sắc của âm thanh có ảnh hưởng tới tai của chúng ta như thế nào? Như đã nói ở trên, mọi nhạc cụ(kể cả giọng nói) đều tạo ra một âm sắc riêng biệt, các âm sắc này được tạo bởi các âm thanh nguyên bản đồng bộ, mỗi âm thanh này được gọi là một âm bội(overtone). Âm thấp nhất và nổi trội nhất được gọi là âm cơ bản và đây chính là âm thanh mà tai ta nhận biết được rõ nét. Ngoài các âm cơ bản này ra còn một số âm phụ chúng ta không thể phân biệt được một cách rõ ràng nhưng cũng rất quan trọng khi phân biệt các loại nhạc cụ tương đối giống nhau. Tất cả những âm thanh rắc rối nói trên được hợp nhất vào một từ âm sắc. Một người đầu bếp có thể làm một món mỳ gà khác hẳn người đầu bếp ở của hàng khác, và với cùng một nét nhạc, nhạc sỹ có thể tự do biến đổi âm sắc để chúng ta có thể thưởng thức thoả thích cái tai của mình .

Một thành phần khác đã được nói tới là độ ồn. Đơn giản như tên của nó đây là độ ồn ào như các bản nhạc Heavy Metal trong khi một số loại nhạc khác lại khá tĩnh lặng. Tuy vậy, các loại nhạc đều sử dụng độ ồn một cách rất biến thiên trong bản nhạc của mình. Trong âm nhạc phương Tây có một số thuật ngữ dùng để chỉ độ ồn này . Mezzo-piano (trung bình thấp), mezzo-forte(trung bình cao), pianisimo(rất thấp), fortissimo(rất cao) là một số từ dùng để chỉ độ ồn. Nếu một giai điệu được bắt đầu từ nhẹ nhàng và sau đó là khá ầm mỹ chúng ta sử dụng từ “cresendo”, ngược lại là “decresendo”.

Thành phần thứ tư là Duration, được định nghĩa là khoảng thời gian cho tới khi ta nghe được nốt nhạc tiếp theo. Nói một cách khác, đôi khi bạn nghe 4-8 nốt nhạc trong một giây, đôi khi là đến 10 giây mới nghe một nốt nhạc.

Duration có một thành phần phụ quan trọng là nhịp điệu. Nhịp điệu được sử dụng ở mọi nơi trong cuộc sống. Tim chúng ta đập theo nhịp, những bước chân theo nhịp, sóng biển vỗ bờ theo nhịp, và trong âm nhạc phổ thông nó là một trong những cái quan trọng nhất trong thành phần để tạo nên món ăn âm nhạc.

Có một số nhịp khá tự do nhưng nói chung nhịp điệu là một công thức bao gồm các duration(khoảng cách) nốt nhạc. Nói một cách thông thường trong âm nhạc phổ thông, nhịp điệu là một thước đo sự lặp lại của âm thanh có thể cảm nhận được hay nghe được. Cái nhịp có thể cảm nhận hay nghe lại được này được gọi là beat. Trong một số loại nhạc (như hard-driving jazz hay rock) nhịp này khá mạnh trong khi đó ở một số loại khác lại khá mỏng manh yếu ớt.

Tốc độ của các nhịp (beat) này được gọi là nhịp độ(tempo). Nhịp độ phụ thuộc khá nhiều vào các loại nhạc cụ(ví dụ như kèn chẳng ai lại thổi nhanh như khi đánh guitar điện ) và vào cảm xúc của nhạc sỹ cũng như loại nhạc. Các bản ballad trữ tình thường có nhịp độ khá chậm trong khi đó những bản Heavy Metal đôi khi có nhịp độ nhanh không tưởng.

Các loại nhạc phổ thồn thường sử dụng một mẫu nhịp bao gồm nhóm 2,3 nhịp hoặc sự kết hợp của các nhóm này. Ví dụ, nếu như trong mẫu nhịp nhóm 2 nhịp người ta có thể đếm 1,2,1,2,1,2… trong khi nhóm 3 nhịp là 1,2,3,1,2,3,1,2,3… Mỗi một nhịp có độ dài nhất định. Nói chung nhạc Rock thường sử dụng mẫu nhịp 4/4(nói chung). 4/4 được hiểu là mỗi một đơn vị nhịp(khuông nhạc chẳng hạn) có 4 nhịp thời lượng bằng nhau (kết hợp hai nhóm 2 nhịp) tuy vậy các nhịp này không được coi trọng như nhau. Nhịp 1 và 3 được coi là các nhịp “mạnh”, nhịp 2 và 4 được coi là các nhịp “nhẹ”. Mạnh hay nhẹ ở đây cũng có thể coi như sự lên xuống trong nhịp điệu. Thông thường trong các loại nhạc phổ thông, ca từ và/hoặc giai điệu thay đổi dựa trên các nhịp mạnh, trong khi nhip yếu là các dấu nhấn “nhân tạo”. Trong cách đánh trống của nhạc Rock, trống cái thường dùng để tạo ra các nhịp mạnh trong khi snare drum(trống có dây căng ngang để tạo âm thanh dồn dập ???) và chũm choẹ nhấn ở các nhịp yếu. Nhấn ở nhịp yếu còn được gọi là nhấn lệch (syncopation). Trong nhịp 3/4, nhịp đầu tiên là mạnh trong khi hai nhịp còn lại là yếu. Nói chung tất cả các mẫu nhịp đều có nhịp đầu tiên là mạnh được gọi là nhịp đầu(downbeat).
Ngay cả khi jazz và Rock được tạo bởi các nhịp dựa trên mẫu nhịp 2 hoặc 3, cũng vẫn có một số sự kết hợp khác. Ví dụ nhịp 5/4(3+2) và có thể được đếm 1,2,3,4,5,1,2,3,4,5,… trong đó nhịp 1 và 4 là mạnh, các nhịp còn lại là yếu. (ví dụ khác như bài Yesterday được viết trên nhịp 7/

Thành phần cuối cùng của mọi loại âm nhạc là khoảng lặng. Khoảng lặng là một âm thanh quan trọng trong nghệ thuật sắp xếp âm thanh để tạo nên bản nhạc. Không có khoảng lặng âm nhạc chỉ còn là một bát cháo sườn đặc quánh âm thanh mà thôi và khoảng lặng đã mang lại sự sáng sủa cho bản nhạc.
Âm nhạc là một món ăn với các thành phần vô cùng đa dạng phụ thuộc vào loại âm nhạc và sự sáng tạo của các nhạc sỹ. Tuy vậy, năm thành phần cơ bản trên không thể thiếu được trong bất cứ một loại nhạc nào nhưng ca từ, giai điệu, nhịp điệu… có thể không nhất thiết phải tồn tại.

Chương 2: Khởi nguồn của nhạc Jazz

Nhạc jazz được khởi nguồn từ đâu ? Nhạc sỹ nào, xã hội nào, nền văn hoá nào đã tạo nên jazz ?

Jazz là một nét văn hoá bản xứ ban đầu chỉ của riêng người Mỹ và đã được tạo ra bởi người Mỹ. Âm nhạc phương Tây và châu Phi là nơi đã gieo hạt nên jazz, nhưng chính văn hoá Mỹ mới là nơi jazz nảy mầm và phát triển. Jazz không phải là loại nhạc của người da trắng, cũng chẳng phải là của người da đen, mà nó là cả một câu chuyện về những phong tục, di sản và cả triết học.

Trong suốt những năm đầu tiên phát triển của đất nước Mỹ, chế độ sở hữu nô lệ được coi là một chuẩn mực. Nô lệ bị ép buộc đến từ châu Phi phải làm việc vất vả trong các đồn điền của người Mỹ. Những nhạc công và những tài năng âm nhạc trong số đó đã học được rất nhanh nền âm nhạc vốn có sẵn của phương Tây, cùng lúc đó, âm nhạc phương Tây cũng đã có không ít bài học về âm nhạc Phi châu.

Nền văn hoá sơ khai của châu Phi coi trọng âm nhạc hơn phương Tây rất nhiều. Âm nhạc là một khía cạnh quan trọng trong những hoạt động hàng ngày của thổ dân châu Phi. Thổ dân châu Phi rất coi trọng các hoạt động theo nhịp điệu khá phức tạp và tiến bộ dựa trên một ca từ và giai điệu đơn giản. Những nét nhịp điệu này đã gắn liền với nô lệ châu Phi trong suốt thời gian họ bị bắt ép làm nô lệ ở Mỹ.

Hơn nữa, một số những người Mỹ da đen mới cũng thể hiện mình thông qua nét âm nhạc truyền thống của họ. Vì cách xa quê hương nên âm nhạc truyền thống một phần cũng không thể thể hiện chính xác được vì rất nhiều lý do, ví dụ như không được sử dụng các nhạc cụ châu Phi truyền thống. Chúng ta có thể hiểu như một ban nhạc rock của các nghệ sỹ châu Phi khi biểu diễn ở Mỹ không được sử dụng bất cứ một cây guitar điện, một dàn trống… Tuy vậy, ban nhạc này vẫn đủ nội lực để có thể sử dụng các nhạc cụ có sẵn tạo ra âm nhạc của mình và điều này là chính xác đối với các nô lệ da đen ở Mỹ.
Bên cạnh việc tìm các nhạc cụ mới, các nhạc sỹ châu Phi cũng đã mở rộng mình để tìm hiểu âm nhạc của phương Tây. Sự mở rộng này là khởi nguồn nảy mầm của nhạc jazz. Những ca từ, giai điệu, nhịp điệu, và cả văn hoá Tây phương không ít thì nhiều cũng đã dần thấm vào những người da đen. Tất nhiên, các nhạc sỹ da trắng cũng đã bị ảnh hưởng nhiều khi nghe nhạc của người da đen. Thời gian trôi qua, và sự trao đổi âm nhạc này đã tạo ra Jazz.

Ngày nay, ở đâu đấy chúng ta vẫn còn bắt gặp những nét nhạc cổ xưa của Phi châu trong Rock và Jazz. Ví dụ, chúng ta có thể thấy phương pháp “gọi và trả lời” được biến tấu khi ca sỹ hát chính hát một đoạn nhạc và sau đó cả nhóm đồng ca hát phụ hoạ lại (giống như những câu hỏi và trả lời).

Một ví dụ khác là “pitch-bending”. Trong suốt những năm ra đời của Jazz, các nhạc sỹ đã uốn cong cao độ trong bài hát của mình tuỳ theo những yêu cầu khác nhau. Hiệu ứng này tạo ra một sự ngạc nhiên cho tai của chúng ta vì không biết thực sự nốt nhạc kết thúc ở đâu. Một số ít các nhạc sỹ Rock và Jazz hiện nay vẫn sử dụng phương pháp này, hãy lắng nghe một đoạn guitar solo trong một bản Rock mà xem. Hầu hết các nhạc cụ tổng hợp(ví dụ Organ) đều có các thiết bị pitch-bend tích hợp bên trong.

Khi nhạc Jazz phát triển, có rất nhiều các loại nhạc khác đã ra đời dựa trên jazz, Rhythm & Blue, Soul,Funk,Rap và Rock ‘n’ Roll đều đã thừa hưởng rất nhiều từ Jazz.

Chương 3 : Và Blues xuất hiện…

Trước khi chúng ta đi sâu hơn về Jazz, cần phải dừng lại ở một loại nhạc. Đây có thể không chính xác được xếp là một phong cách nhạc nhưng nếu chỉ coi là những nền móng của một loại nhạc thì không thật chính xác. Những nền móng này không chỉ được bắt gặp ở trong Rock và Jazz mà còn trong rất nhiều các loại nhạc phổ thông khác, bao gồm, country, gospel, và cả một số tác phẩm cổ điển cùng thời với nó. Đó chính là Blues.
Khởi nguồn của Blues không đơn giản một cách chắc chắn như là đã được khắc lên đá. Trong một vài năm, đã có rất nhiều chuẩn mực về giai điệu, cách hoà âm được thiết lập, và những chuẩn mực này đã và vẫn đang được biểu diễn rộng rãi. Blues có thể rất buồn, hạnh phúc, chậm, nhanh, không lời, ca khúc… và thậm chí là bất cứ nét nhạc nào do các nghệ sỹ viết ra.

Một trong những chuẩn mực được phổ biến rộng rãi về blues được gọi là “gam blues” (blues scale - bắt đầu từ C : C,Eb,F,Gb,G,Bb) được xuất phát có lẽ là từ gam ngũ âm của người châu Phi (African Pentatonic scale- C,D,E,F#,G#,A#) và kết hợp với các gam âm nguyên của phương Tây (C,D,E,F,G,A,B) và dần dần kết hợp để tạo nên gam blues như hiện nay. Như đã nói ở trước, các nốt méo được sử dụng ngay từ những ngày đầu tiên phát triển nên Jazz, theo cách đó hiệu ứng “pitch-bending” có thể tạo ra những nốt nhạc lỏng lẻo để tạo nên những thuật ngữ như “flat-third”,”flat-fifth”, và “flat-seventh”, của gam blues. Tính lỏng lẻo không ổn định của blues đã tạo nên một chất rất riêng của nó.

Cùng với gam chuẩn của nhạc blues, một quá trình hình thành giai điệu của nhạc blue cũng đã xảy ra. Quá trình đó bây giờ được gọi là “12 bar blues -?” (I,I,I,I,IV,IV,I,I,V,IV,I,I). Mỗi một chữ số La Mã ở đây tương ứng với một trong bốn nhịp và mẫu này được lặp lại trong suốt quá trình soạn một bản nhạc blues.

Lời cua những bản nhạc blues thông thường khá đơn giản nhưng vào thời điểm đó khá là sầu thảm. Rất nhiều lời của các bài blues được viết dưới dạng thơ ngũ âm(iambic-thơ trào phúng cổ của người Hy lạp). Khi lời của bài hát được viết dưới dạng ngũ âm, 12 hợp âm của chúng ta được chia thành 3 phần bằng nhau. Phần đầu của lời(gọi là phần A) thường được lặp lại và sau đó đến phần tiếp theo khác đi(phần B) là phần cuối cùng. Lời bài hát sẽ được lặp lại theo mẫu sau “A A B”. Đây là một ví dụ, bài “Don’t Fish in My Sea” của Ma Rainey :


My daddy come home this mornin' drunk as he could be, (A)
My daddy come home this mornin' drunk as he could be, (A)
I knowed by that he's done got bad on me. (B)
He used to stay out late, now he don't come home at all,
He used to stay out late, now he don't come home at all,
I know there's another mule kickin' in my stall.
If you don't like my ocean, don't fish in my sea,
Don't like my ocean, don't fish in my sea,
Stay out of my valley, and let my mountain be.
I ain't had no lovin' since God knows when,
I ain't had no lovin' since God knows when,
That's the reason I'm through with these no good triflin'men.
Never miss the sunshine till the rain begin to fall,
Never miss the sunshine till the rain begin to fall,
You'll never miss you ham till another mule be in your stall.
Lịch sử của các giọng hát nhạc blues được chia thành hai nửa. Mỗi nửa thể hiện một giai đoạn khác nhau. Nửa đầu tiên vào khoảng cuối thế kỷ IXX đến những năm 1930. Nửa này ghi nhận hai phong cách hát blues riêng biệt. Phong cách thứ nhất có thể được coi là country hoặc rural-blues trong khi đó phong cách còn lại được gắn mác city hoặc urban-blues ().

Nhạc blues đồng quê được hát bởi những người đàn ông với nhạc cụ và phần nhạc đệm đơn giản. Những ca sỹ hát nhạc blues thời đó thường chỉ có cây guitar là nhạc cụ duy nhất để đệm cho mình. Ca từ cũng rất đơn giản và âm nhạc thật sự rất mộc mạc và không hề được gọt dũa. Một số ca sỹ nam nổi tiếng được ghi vào sử sách có thể kể tới là Lightnin' Hopkins, Huddie Ledbetter, Big Bill Broonzy, và Blind Lemon Jefferson.
Nhạc blues thành phố bao gồm cả giọng ca của các ca sỹ nam và nữ. Âm nhạc ở đây tao nhã và tinh tế hơn nhạc blues đồng quê. Thay bởi phần nhạc nền đơn giản, những ca sỹ nhạc đồng quê thành phố còn có thể sử dụng một nhóm khiêu vũ nhỏ phụ hoạ. Bessie Smith, Ma Rainey, và Chippie Hill là những ca sỹ nổi tiếng nhất ở phong cách này.
Sau năm 1930, phong cách nhạc blues bắt đầu thay đổi. Đi theo sự phát triển của các giọng ca blues, sự phát triển trình độ của một số các nhạc công cũng tăng lên đáng kể. Vào lúc này, những nghệ sỹ nhạc blues lớn có thể sử dụng nhạc cụ tốt như là giọng hát của họ. Vào thời gian khởi đầu, các nhạc công thường bắt chước phong cách của các ca sỹ nhưng đến thời điểm này một số ca sỹ cũng đã phải sao chép phong cách của các nhạc công lớn. Một số các nghệ sỹ chính trong thời kỳ này có thể kể đến như Joe Turner (có ảnh hưởng lớn tới Rock ‘n’ Roll sau này) , Joe Williams, và Jimmy Rushing (Both Williams và Rushing đều hát trong ban nhạc nổi tiếng Count Basie). Các nhạc sỹ có thể vừa hát vùa đệm đàn nổi tiếng có thể kể tới Louis “Satchmo” Armstrong, B.B.King, Ray Charles.

Như đã nói ở trên, Blues được sử dụng nhiều trong tất cả các loại nhạc phổ thông. Chúng ta có thể kể ra đây một vài ví dụ như "Rock Around the Clock" bởi Bill Haley và the Comets (l954); "409" bởi the Beachboys (l961); "Reeling and Rockin" bởi Chuck Berry (late l950s); "In the Mood" thực hiện bởi Glenn Miller (l941); "Hound Dog" bởi Elvis Presley (l957); và "Can't Buy Me Love" bởi the Beatles (l965).

Chương 4: Ragtime (1890-1920)

Phong cách tiêu biểu đầu tiên của Jazz và có lẽ là phong cách phổ biến nhất đầu tiên ở Mỹ là Ragtime, dựa trên chủ yếu là nền nhạc piano solo.

Vì Ragtime được xây dựng chủ yếu trên một nền nhạc solo, kỹ thuật sử dụng piano ở đây được coi trọng và rất phát triển. Phần bên trái được sử dụng để chơi các âm thanh trầm và hợp âm, phần tay phải chơi đệm cho bài hát. Vào thời điểm đó, cách chơi này là khá khó khăn và đòi hỏi những kỹ năng nhất định. Song song với những âm thanh mạnh mẽ của Ragtime là một số lượng lớn các nốt nhấn lệch khá rắc rối.

Hầu hết các bản nhạc và lời của Ragtime đã được soạn trên giấy. Lý do đơn giản là các nhạc sỹ đã có thể bán để kiếm tiền như các ca sỹ bán băng và đĩa như hiện nay. Vào thời đó, TV, radio, còn chưa được phát minh hoặc chưa được phổ biến rộng rãi, vì vậy, nhu cầu giải trí tại gia là rất lớn.

Chơi piano vào những năm cuối thế kỷ IXX là khá phổ biến, mọi người dân đều có thể tự chơi nhạc tại nhà, ngay cả nếu họ không biết/muốn chơi, họ vẫn có thể trả tiền để mời một nhạc công tới chơi. Nhờ cách đó, Ragtime đã được nghe và phổ biến trên khắp nước Mỹ.

Nhờ tính phổ biến của mình, Ragtime được sử dụng trong nhiều hoàn cảnh , hội hè, trong khách sạn, quán ăn, Những cuộc thi Ragtime trên khắp nước Mỹ cũng được tổ chức, và thậm chí dân chúng cũng có thể nhẩy múa dựa trên phong cách Jazz phổ biến này.

Ragtime được cấu tạo dựa trên rất nhiều các chất liệu cổ điển phương Tây. Mỗi Rag chứa 4 giai điệu chính và quan trọng ngang nhau. Tuy vậy các phần trong nhạc Rag lại khá đối lập nhau, phần đầu rất ồn ào ầm mỹ trong khi phần thứ hai lại ngược lại hoàn toàn.
Nghệ sỹ viết và chơi nhạc Ragtime nổi tiếng nhất có lẽ là Scott Joplin. Joplin được đào tạo chính quy để viết opera. Một số các nhạc sỹ quan trọng khác là Tom Turpin, Joseph Lamb, và James Scott.

Ragtime dần dần lụi tàn vào khoảng năm 1920 khi các dòng nhạc Jazz khác phát triển. Vào những năm 1970, Ragtime(đặc biệt kể đến Scott Joplin) đã một lần nữa phát triển lại dòng nhạc này trong bộ phim nổi tiếng “The Sting” được đóng bởi Robert Redford và Paul Newman. Soundtrack của bộ phim này đã được giải thưởng của Viện Hàn lâm trong cùng năm đó. Những nhà đạo diễn và cả những người dân Mỹ một lần nữa lại tìm ra phong cách nhạc độc đáo này sau nửa thế kỷ Scott Joplin không còn tồn tại nữa.

Chương 5 : New Orleans Dixieland (1900-1920)

Ngay trong khi Ragtime đang phát triển rực rỡ, một dòng nhạc Jazz khác đã được hình thành. Ở miền nam nước Mỹ, một thành phố cảng với nền kinh tế vững chắc đã là cái nôi để phát triển dòng nhạc Jazz mới. Kết quả là chúng ta có dòng nhạc Jazz ở New Orleans theo kiểu Dixieland.

Trong những năm đầu tiên của thế kỷ XX, New Orleans với nền kinh tế vững chắc của mình đã là cái nôi vững chắc để nghệ thuật phát triển. Khi Venice(Italy) vào những năm 1500 tới 1600 phát triển mạnh, âm nhạc thời kỳ Phục hưng và tiền-Baroc đã được gieo mầm và phát triển. Pháp và Đức vào những năm 1700-1800 cũng là những nước có tiềm lực kinh tế mạnh, đi cùng nó là nghệ thuật hội hoạ đỉnh cao. Một lần nữa vào những năm 1900 Mỹ là nước phát triển mạnh nhất và New Orrleans là trung tâm của những cơ hội phát triển mới.

New Orleans là một thành phố có thể bao dung mọi thành phần trong xã hội cũng như mọi nền văn hoá. Lịch sử của thành phố đã chứng minh điều này. Đầu tiên, thành phố này là của người Pháp trong khoảng 50 năm. Vào năm 1764. nó là của người Tây Ban Nha trong khoảng 40 năm. Sau khi được trả lại cho người Pháp, cuối cùng nó đã được mua bán để thành một phần của nước Mỹ. Với sự giao thoa này thì đây là một nơi lý tưởng để hoà trộn nền văn hoá châu Phi và phương Tây tạo nên Jazz.

Một vài hiện tượng tự nhiên, xã hội, kinh tế tồn tại ở đây đã ảnh hưởng trực tiếp tới Jazz. Đầu tiên phải kể đến những người Pháp lai da đen có một nền văn hoá âm nhạc cổ điển trang nghiêm, và tiếp đến là âm nhạc cổ truyền thô mộc ít tinh tế hơn của người da đen.

Thứ hai, một truyền thống tổ chức tang lễ rất đặc biệt nhưng lại phổ biến ở New Orleans với sự tham gia của ban nhạc tang lễ chơi các hành khúc. Trong lịch sử có rất nhiều kiểu nhạc công đã được mời chơi trong các lễ tang, nhưng ở New Orleans, nhạc công chơi theo một cách rất đặc biệt. Như mọi ban nhạc tang lễ chơi ngoài nghĩa địa khác, họ cũng tấu những bản nhạc chậm rãi, u ám. Ngay sau tang lễ, ban nhạc cũng lặp lại những ca khúc đau buồn đó cho đến khi đám rước tiến đến cổng nghĩa trang. Ngay lập tức ban nhạc sẽ chuyển sang loại nhạc nhanh và vui vẻ. Thứ nhạc nhanh và vui này sẽ đi theo đám rước cho tới khi họ về đến thị trấn để rũ bỏ những u sầu khi mất một người thân.

Thứ ba, bên cạnh nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, thành phố còn có 32 khu vực đặc biệt gọi là Storyville (lầu xanh-“red-light” district). Trong mỗi khu thường có 4 lầu xanh 2 tầng, tầng dưới là các phòng lớn và tầng trên dùng để “làm việc”. Các phòng lớn này cũng giống như hộp đêm hiện nay đã chơi một thứ nhạc mới và thịnh hành suốt cả ngày để đem lại thư thái cho những ông chủ. Khu Storyville này đã đem lại rất nhiều công việc cho các nhạc công chơi Jazz.
Khi dòng nhạc Dixieland bắt đầu phát triển cũng là lúc phong cách chơi nhạc và nhạc cụ được định hình. Các nhạc cụ chuẩn bao gồm kèn trumpet(hoặc cornet), clarinet, trombone, banjo, tuba và trống.

Trumpet thông thường là loại nhạc cụ “to mồm” nhất trong số này và hấu hết thời gian trumpet đảm nhận vai trò chính trong ban nhạc. Người chơi trumpet thường được gọi là “King”. Ngoài vai trò chơi nhạc theo giai điệu có sẵn, trumpet còn có nhiệm vụ chơi những khúc ngẫu hứng. Thông thường các nhạc công sẽ tự chơi những khúc ngẫu hứng theo ý mình, tuy vậy cũng không đi quá xa với bản nhạc để đến nỗi công chúng không còn nhận ra được  . Ngoài ra, người thổi kèn trumpet với vai trò “to mồm” nhất của mình còn phải sáng tạo thế nào để có thể lôi kéo đông đảo dân chúng lắng nghe và…
Clarinet cung cấp các hoà âm và đối âm dựa trên nền trumpet chính. Clarinet không to mồm như trumpet, nhưng lại có khả năng chơi nhanh và với âm vực cao hơn. Một nghệ sỹ clarinet giỏi có thể thêm rất nhiều sáng tạo độc đáo cho bản nhạc của mình.

Kèn trombone, với thanh kéo của mình(???-gọi là rì ý nhỉ???) có thể dễ dàng tạo ra những âm méo (pitch-bend), những âm thanh phổ biến trong nhạc Jazz. Có thể nói, với ba nhạc cụ trong bộ kèn hơi này, một thứ âm nhạc phức điệu(polyphonic) đã được ra đời.
Bên cạnh đó, các ban nhạc còn sử dụng các nhạc cụ giữ nhịp bao gồm tuba,banjo và bộ gõ. Tuba cung cấp những âm thanh trầm(bass), banjo cung cấp những hợp âm ổn định, còn trống và bộ gõ tạo ra nhịp của bài hát.

Một trong những nhạc sỹ nổi tiếng được nhiều người biết tới nhất trong thời đại đó là King Oliver (leader/trumpeter). King Oliver cũng đã tập hợp được nhiều nhạc công giỏi và mỗi người trong số họ cũng đã nổi tiếng ở vị trí của mình, trong đó phải kể đến Louis Amstrong.

Vào cuối thế chiến lần thứ nhất, những sự thay đổi trong luật pháp đã làm cho khu Storyville bị tan rã. Với việc mất đi các saloon và chỗ làm việc, các nghệ sỹ bắt đầu chuyển sang sống ở các khu vực khác của nước Mỹ, phần lớn ở Chicago. Với sự gia nhập này, một dòng nhạc Jazz mới đã được hình thành.

Milan Kundera trong Điệu valse giã từ

Điệu valse giã từ là tác phẩm thứ ba của nhà viết tiểu thuyết trứ danh người Czech Milan Kundera, người từng được độc giả VN hâm mộ qua Sự bất tử, Cuộc sống không ở đây...

Những câu hỏi đi suốt cuốn sách: Phần nhân tính trong con người còn được bao nhiêu? Sau bao nhiêu suy ngẫm về cuộc sống và cái chết, mỗi cá nhân đã làm được gì để thay vào lòng căm ghét đối với con người là một nhận thức mới, bền bỉ, nhân bản, có thể dập tắt lòng hận thù?

Có những nhân vật được dựng lên như một cái cớ để cuốn các nhân vật khác vào chính tâm điểm của đời họ. Ba nhân vật chính, thương gia người Mỹ Bertlef, tay trí thức Jakub và bác sĩ Skreta xoay mòng mòng quanh cái trục cám dỗ của ba người đàn bà: Nữ y tá Ruzena, cô sinh viên Olga và cựu ca sĩ Kamila. Khi bị cuốn vào cơn mê sảng vô thức này, mỗi nhân vật chính đều lần lượt tìm ra cách thức di chuyển, dời gót hay những nhịp điệu riêng cho điệu valse tâm trạng lạ lùng của họ, một điệu valse với ma quỷ nhưng đủ sức giúp họ nhìn thấy con người thực của mình. Mỗi người tự cho mình là một vị chúa của chính bản thân họ. Cuối cùng để làm gì?

Không ai thoát khỏi định mệnh, khỏi điệu valse khắc nghiệt của cuộc đời. Khi nhảy với ma quỷ, họ ngỡ mình là Thượng đế, nhưng khi điệu valse kết thúc, họ trở lại là những con người bất hạnh, hoài nghi, bất an hoặc không kiên định. Thứ âm nhạc phát ra từ điệu valse ấy chính là tinh thần cuộc sống, với tất cả mặt tích cực và tiêu cực của nó, có thể lột trái bản chất của từng con người ấy ra. Đó là thái độ thờ ơ trước cái chết của kẻ khác, những kẻ giết người trá hình, gián tiếp mà lương tâm không hề cắn rứt, là những trạng huống phi lý mà khi lạc vào đó, con người trở nên độc ác và không thoát khỏi mê lộ của sự sinh sát, huỷ diệt trong chính tâm hồn họ. Nhưng có một điều an ủi lớn lao là trước khi rời khỏi thành phố để ra nước ngoài, nhân vật nhiều chất suy tư Jakuk đã nhìn thấy cái đẹp cao quý, thánh thiện ẩn trong con người Kamila. Thế là đủ cho anh dấn bước vào một tương lai trước mặt. Có cảm giác chính Milan Kundera ưu ái chạm trổ nhân vật này, vì cuộc đời ông cũng tha hương đi tìm một chân trời khác.

Tương tự như thế giới đàn ông, thế giới phụ nữ, cũng có những mặt xấu, nhưng bản chất của họ dù là suối nguồn bị ô nhiễm nhưng có thể cứu vãn được. Họ vẫn còn những bản năng tốt đẹp để giúp người khác nhận ra những giá trị thực trên đời.

Bản dịch của Cao Việt Dũng (cũng là người đã dịch Cuộc sống không ở đây ) khá nhuần nhuyễn, dễ hiểu, không rườm rà. Đây là giai đoạn đầu trong quá trình đổi mới cách thức viết tiểu thuyết, mang lại cho tiểu thuyết một sức sống mới trong bút pháp của Kundera, nên chưa đến nỗi phức tạp. Song chính bậc thầy tiểu thuyết hiện đại này đã nói: "Tinh thần tiểu thuyết là tinh thần của sự phức tạp. Mỗi tiểu thuyết nói với độc giả: Sự đời phức tạp hơn là anh tưởng".